Đi trở lại   Câu Lạc Bộ Cán Bộ Trẻ - TP Đà Nẵng > Ý TƯỞNG - HIẾN KẾ > Ý tưởng của hội viên
Gallery FAQ Thành viên Lịch Tìm kiếm Bài mới trong ngày Đánh dấu diễn đàn đã đọc

Gửi Đề tài mới Hồi đáp
 
Công cụ Đề tài
  #1  
Old 17-01-2009, 10:42 PM
tampv's Avatar
tampv
tampv is offline
Nguyên Chủ tịch Câu lạc bộ (từ năm 2004 đến năm 2012)
 
» Tên thật: Phan Văn Tâm
» Cơ quan công tác: Ban Nội chính Trung ương
Bài gửi: 167
Default Đề xuất về đề án 47 và 393.

BÁO CÁO VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CHO THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG QUA HAI ĐỀ ÁN 47 VÀ 393

(Trên nền tảng ý tưởng trong Bản tin số 5, tôi và anh Nguyễn Đình Thuận - Chánh Văn phòng CLB tiếp tục nêu thêm cả đề án 47, mong các anh chị cho ý kiến).

Thực hiện mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực để phục vụ phát triển thành phố, từ năm 2005, lãnh đạo thành phố đã chỉ đạo triển khai hai chương trình lớn là “Dự án hỗ trợ đào tạo bậc đại học tại các cơ sở giáo dục trong nước và ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước dành cho học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” (gọi tắt là Dự án 151, sau đó là Dự án 32, hiện đổi tên là Đề án 47) và “Đề án đào tạo 100 thạc sĩ, tiến sĩ tại các cơ sở nước ngoài” (gọi tắt là Đề án 393). Bản báo cáo này đánh giá lại tình hình thực hiện hai Đề án nói trên đồng thời xem xét những tồn tại, nguyên nhân và đề ra một số giải pháp để thực hiện có hiệu quả hơn các chương trình này.

1. Tình hình thực hiện
1.1. Về Đề án 47
Tính đến nay, tổng số học sinh tham gia Dự án 151 và Dự án 32 học ở trong nước và học ở nước ngoài trong 04 năm học là 180 học sinh (đã trừ đi 8 học sinh rút khỏi Dự án được thành phố chấp thuận và số học sinh không ký hợp đồng để tham gia Dự án do không đáp ứng được yêu cầu về đào tạo cũng như các điều kiện ràng buộc của Dự án). Cụ thể như sau:

Năm học Tổng số học sinh tham gia Dự án Trong đó
Trong nước Nước ngoài
2004 – 2005 49 34 15
2005 – 2006 53 39 14
2006 – 2007 53 30 23
2007 – 2008 26 13 12
Tổng cộng: 180 116 64
(Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố)
1.2. Về Đề án 393
Tính đến tháng 12 năm 2008, đã có 56 công chức, viên chức được UBND thành phố ra quyết định cử đi học, trong đó:
+ Thạc sĩ: 44 người, tiến sĩ: 12 người
+ Chuyên ngành đào tạo: Công nghệ thông tin: 12 người, Thị trường Tài chính: (06 người), Kinh tế đối ngoại (13 người), Y tế (04 người), Hành chính công (04 người), Giáo dục (07 người), Kiến trúc (02 người), Báo chí (01 người), Công nghệ Sinh học (02 người) và Du lịch (04 người), Quản lý dự án (01 người).



2. Nhận xét và đánh giá
2.1. Những kết quả đã đạt được
Việc thực hiện hai Đề án nói trên là một bước đột phá trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cho thành phố, thể hiện mong muốn và quyết tâm phát triển thành phố một cách hài hòa, cân bằng và bền vững giữa “phần cứng” là cơ sở kỹ thuật hạ tầng và “phần mềm” là nguồn nhân lực.
Mặc dù đây là lần đầu tiên thực hiện, song được sự chỉ đạo kịp thời của Thành ủy, UBND thành phố, Ban Tổ chức Thành ủy, Sở Giáo dục và Đào tạo và sự phối hợp của các Sở, ban ngành có liên quan, hai chương trình đã bắt đầu gặt hái được những thành công. Trong quá trình cử cán bộ, học sinh tham gia chương trình, chưa có trường hợp nào không đủ năng lực nghiên cứu, học tập và buộc phải về nước hoặc ngừng tham gia chương trình giữa chừng, không có trường hợp nào phải học lại, thi lại, không có trường hợp nào vi phạm luật pháp nước sở tại.
Trong năm 2008, Đà Nẵng bắt đầu tiếp nhận những cán bộ, sinh viên đầu tiên tham gia hai Đề án trên hoàn thành khóa học và quay trở lại thành phố. Việc phân công công tác cũng kịp thời, vừa đáp ứng nguyện vọng của người đi học, vừa theo đúng chính sách bồi dưỡng và sử dụng cán bộ của thành phố.
Bên cạnh những thành công nói trên, do lần đầu tiên thực hiện nên việc triển khai hai Đề án không tránh khỏi những tồn tại mà nếu được khắc phục sẽ góp phần nâng cao chất lượng chương trình, đáp ứng đúng kỳ vọng của lãnh đạo thành phố và bản thân những người đi học.

2.2. Những mặt tồn tại và nguyên nhân
Trong số hai đề án trên, việc triển khai Đề án 47 ít gặp khó khăn và vướng mắc hơn Đề án 393. Nguyên nhân là do các em học sinh được tập trung đào tạo trong môi trường học đường và được theo dõi một cách thường xuyên nên cơ quan quản lý tỏ ra chủ động trong việc lựa chọn các đối tượng có triển vọng phát triển, có học lực tốt để cử đi đào tạo. Bên cạnh đó, việc chọn ngành, trường và nước để cử học sinh dễ dàng hơn vì dù sao hình thức học cử nhân là việc đào tạo cơ bản trước khi bước vào công việc mới.
Trong khi đó, với những đặc tính về đào tạo chuyên sâu, tập trung vào đối tượng là các cán bộ, công chức trẻ có năng lực làm việc tại các cơ quan khác nhau trên địa bàn thành phố, Đề án 393 trong quá trình thực hiện đã gặp phải một số vướng mắc, cụ thể như sau:

2.2.1.Về bộ máy điều phối chương trình:
Để triển khai chương trình, thành phố đã thành lập Ban Chỉ đạo Đề án gồm thành viên là đại diện lãnh đạo Thành ủy, UBND thành phố và các cơ quan có liên quan. Đến năm 2008, theo ý kiến chỉ đạo của Thường trực Thành ủy, Bộ phận chuyên trách thực hiện Đề án 393 cũng được thành lập nhằm chuyên nghiệp hóa quy trình điều phối và giải quyết các thủ tục liên quan đến việc cử cán bộ đi học. Nhờ vậy, thời gian và thủ tục giải quyết cho người di học đã được rút ngắn và thuận lợi hơn. Tuy vậy, trong quá trình triển khai, vẫn còn một số vấn đề cần quan tâm:
Một là, việc thẩm định và định hướng trường học tại nước ngoài còn nhiều hạn chế nên ít nhiều ảnh hưởng tới mục tiêu đào tạo cán bộ, công chức tại các cơ sở “chất lượng cao”. Việc chọn cơ sở đào tạo còn dàn trải, chưa tìm hiểu đầy đủ về các ngành học, nhóm ngành học, trường đại học và khoa có uy tín để cử cán bộ đi. Ví dụ, nếu lấy theo tiêu chí 200 trường đại học hàng đầu thế giới theo bảng xếp hạng của tạp chí Times Higher Education (Anh), trong 56 trường hợp được cử đi nói trên, chỉ có 14 học viên học tại 8 trường có trong danh sách này. Nguyên nhân là do việc chọn trường, chọn ngành hầu như được “khoán” cho cán bộ tham gia chương trình. Cán bộ, công chức thường phải tự liên hệ qua các kênh khác nhau để có được giấy mời của nhà trường. Cách phổ biến nhất là thông qua các công ty tư vấn du học để sớm xin được thư mời học. Thực tế là các công ty tư vấn du học thường có quan hệ với rất nhiều trường đại học có mặt bằng chất lượng đào tạo khác nhau. Các trường chất lượng cao thường yêu cầu học viên có trình độ cao (về học lực, về ngoại ngữ) và các trường có chất lượng trung bình lại thường dễ dàng về các thủ tục đầu vào nên thường nhanh chóng cung cấp thư mời nhập học.

Hai là, việc quản lý, liên hệ giữa Ban Chỉ đạo, bộ phận giúp việc với cán bộ, công chức tham gia chương trình đào tạo chưa thực sự thông suốt. Chưa có một chế tài và quy định rõ ràng về việc nhà trường phải định kỳ gửi kết quả học tập từng học kỳ về Ban chỉ đạo để theo dõi và xem xét. Cũng chưa có quy định cụ thể cán bộ, công chức được cử đi học phải báo cáo cụ thể những kết quả gì trong quá trình học tập tại nước ngoài. Cơ quan quản lý cũng không chủ động liên hệ được với các trường có cán bộ, công chức thành phố theo học để nắm bắt tình hình học tập của cán bộ, công chức.

Ba là, Bộ phận chuyên trách chưa thể quản lý tài chính cho người đi học. Người đi học nhận kinh phí hỗ trợ phải tự tiến hành lập thủ tục tạm ứng, thanh toán, mua vé máy bay, chi phí liên quan, chuyển đổi ngoại tệ dẫn đến những thua thiệt do chênh lệch về tỷ giá và khó khăn cho những trường hợp không thông thạo về quy định tài chính.

2.2.2. Về đối tượng được cử đi học:
Ngoài yêu cầu về lý lịch bản thân và gia đình, năng lực chuyên môn, đối tượng tham gia Đề án 393 phải có trình độ ngoại ngữ đủ tiêu chuẩn. Đáng tiếc là số lượng cán bộ, công chức đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu trên không nhiều. Phổ biến nhất là nhiều trường hợp cán bộ có năng lực song trình độ ngoại ngữ lại rất hạn chế. Để đào tạo đối tượng này cũng có nghĩa là phải đào tạo lại về ngoại ngữ. Do việc đào tạo ngoại ngữ mang tính chất thời vụ (ví dụ, đủ trình độ để đạt tiêu chuẩn tiếng Anh IELTS), cho nên, dù có thể đạt được điểm để tham gia chương trình nhưng không có gì đảm bảo số lượng cán bộ, công chức được cử đi học này có thể sử dụng tốt ngoại ngữ phục vụ việc học tập tại nước sở tại.

2.2.3. Về tình trạng “khan hiếm” ứng viên
Trong quá trình thực hiện đề án 393, do áp lực về hoàn thành chỉ tiêu trong một thời gian nhất định đã dẫn đến tình trạng có giai đoạn việc cử cán bộ đã vượt chỉ tiêu tại một số nhóm ngành và vô hình chung thu hẹp chỉ tiêu của các nhóm ngành khác . Bên cạnh đó bắt đầu xuất hiện xu hướng sử dụng “đầu ra” của Đề án 47 để làm “đầu vào” cho Đề án 393. Xu hướng này khác với mục đích của Đề án là đào tạo cán bộ đã kinh qua công tác tại các Sở, ban ngành của thành phố. Hiện nay đã có 5 trường hợp sau khi hoàn thành khóa học theo Đề án 47 được xét chuyển trực tiếp sang Đề án 393. Việc đào tạo “liên kết” này tuy phần nào giải tỏa “cơn khát” về nguồn cán bộ cử đi đào tạo nhưng xét sâu xa đã giảm bớt cơ hội tham dự Đề án đối với các cán bộ, công chức trẻ khác của thành phố.

2.2.4. Về sự chênh lêch trong cơ cấu một số nhóm ngành
(Ví dụ: hiện nay nhóm ngành Kinh tế đối ngoại đã vượt 5 chỉ tiêu và nhóm ngành thị trường tài chính đã vượt 01 chỉ tiêu) Trong khi đó, các nhóm ngành khác như luật, quản lý đô thị và giao thông công chính lại chưa có người theo học.

3. Đề xuất
Nhằm thống nhất trong quản lý 02 chương trình đào tạo nói trên, đồng thời đưa các chương trình đào tạo nguồn nhân lực của thành phố đi vào ổn định và hoạt động hiệu quả, đặc biệt là tạo thương hiệu riêng cho Đà Nẵng, kính đề nghị lãnh đạo thành phố xem xét gộp hai Đề án nói trên thành một chương trình với tên gọi “Học bổng Phát triển Đà Nẵng”. Chương trình học bổng này sẽ tập trung đào tạo và bồi dưỡng tại các cơ sở giáo dục chất lượng trong và ngoài nước bằng ngân sách của thành phố với đối tượng là cán bộ, công chức có năng lực và học sinh, sinh viên có triển vọng.
Để thực hiện thành công chương trình học bổng nói trên, kính đề nghị lãnh đạo thành phố xem xét chỉ đạo cho hoàn chỉnh các quy trình sau:

Thứ nhất, củng cố lại bộ phận chuyên trách theo mô hình của một Ban Quản lý Dự án. Hoạt động của Bộ phận chuyên trách giống như các cơ quan điều phối các chương trình học bổng của nước ngoài như học bổng Chevening (Vương quốc Anh) hoặc ADS (Úc) với các nhiệm vụ cụ thể:
- Xác định chỉ tiêu tuyển sinh và lập danh sách cho từng năm, thống nhất trình lãnh đạo thành phố một hoặc hai lần trong năm. Tránh để tình trạng cử cán bộ đi rải rác trong cả năm.
- Tập trung đối tượng được nhận học bổng là cán bộ, công chức làm việc trực tiếp tại các Sở, ban, ngành, quận huyện của thành phố. Hạn chế việc hỗ trợ học bổng cho cán bộ, viên chức của các cơ quan khác (ví dụ: Đại học Đà Nẵng)
- Xem xét về cơ cấu độ tuổi, giới tính đối với người được nhận học bổng theo hướng giảm tỷ lệ nữ và tăng tỷ lệ nam.
- Là cơ quan đầu mối tư vấn về địa điểm du học và chủ động đề xuất ngành học cho người đi học, đảm bảo người đi học sẽ có cơ hội được học tại các trường có chất lượng cao.
- Ký kết hợp đồng vận chuyển với Hãng Hàng không Việt Nam để đưa đón học viên, bảm bảo học viên đi và về nước đúng hạn.
- Đăng ký và tổ chức cho học viên khám sức khỏe để làm visa.
- Tổ chức các buổi chia sẻ kinh nghiệm và phổ biến thông tin cần thiết cho học viên theo học từng nước nhất định trước khi học viên lên đường.
- Ký thoả thuận với một ngân hàng để định kỳ gửi kinh phí đào tạo và sinh hoạt phí cho người được cử đi học sau khi người đó đã thành lập tài khoản ở nước ngoài.
- Yêu cầu người đi học cung cấp email của văn phòng khoa, trường hoặc Văn phòng sinh viên quốc tế nơi người đó theo học cũng như mã số sinh viên để cán bộ chuyên trách định kỳ trao đổi với cán bộ nhà trường về kết quả học tập của học viên, vấn đề kinh phí, chế độ học bổng (nếu có) của học viên đó.
- Có cơ chế về tuyên truyền, PR cho Học bổng Phát triển Thành phố (đăng tin, bài viết, tổ chức trao tặng học bổng tượng trưng theo từng năm học một cách trang trọng) để thu hút những người có năng lực và mở rộng khả năng kêu gọi các nguồn tài trợ cho chương trình.
- Thiết lập và kết nối mạng lưới các học viên tham gia chương trình học bổng để trao đổi kinh nghiệm, phối hợp công tác.
- Tiếp tục theo dõi sự tiến bộ trong công tác của các học viên sau khi đã hoàn thành chương trình và về làm việc cho thành phố, từ đó đánh giá mức độ hiệu quả của chương trình.
- Xúc tiến, ký kết thỏa thuận với các cơ quan, tổ chức, cơ sở đào tạo trong và ngòai nước để hợp tác triển khai chương trình.

Thứ hai, về định hướng các cơ sở đào tạo nước ngoài. Bộ phận chuyên trách thông qua các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài và các tổ chức giáo dục quốc tế tại Việt Nam, chủ động lựa chọn các cơ sở đào tạo tại nước ngoài căn cứ vào các tiêu chí có uy tín về chất lượng đào tạo, học phí hợp lý, có chế độ miễn, giảm, ưu đãi cho ứng viên thành phố, có chương trình đào tạo ngắn, có kinh nghiệm đào tạo người Việt, có nhiều sinh viên Việt Nam học, dịch vụ sinh viên tốt, sinh hoạt phí hợp lý. Ngoài ra, cần lưu ý rằng một số trường có thể không có tên trong danh sách các trường hàng đầu thế giới, nhưng chất lượng và danh tiếng trên một số ngành, lĩnh vực có thể đứng nhất nhì một nước. Thực tế này đòi hỏi các cán bộ Bộ phận chuyên trách sẽ phải có sự đầu tư, nghiên cứu và tham vấn kỹ lưỡng, nghiêm túc. Từ đó có khuyến nghị cần thiết đối với cán bộ, công chức có trong danh sách. Hạn chế tối đa việc cán bộ tự liên hệ môn học và ngành học. Hoặc đối với các chuyên ngành hẹp, nếu để học viên tự liên hệ thì cần yêu cầu học viên có giải trình cụ thể.

Thứ ba, chính thức tuyên bố chấm dứt việc tuyển các ứng viên học thạc sĩ, tiến sĩ tham gia các nhóm ngành đã quá chỉ tiêu (thị trường tài chính, kinh tế đối ngoại). Trên cơ sở đó, không xem xét cho đi học ngoại ngữ đối với các ứng viên dự kiến tham gia vào những nhóm ngành này.

Thứ tư: cơ cấu lại nhóm ngành đào tạo trong Học bổng Phát triển Thành phố của ba cấp cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ vào 5 nhóm ngành chính như sau. Đề xuất này được đưa ra trên cơ sở so sánh với các nhóm ngành của Đề án 47 và Đề án 393 và qua tìm hiểu thực tế đào tạo tại các trường đại học danh tiếng trên thế giớ và đặc biệt căn cứ vào nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của thành phố cũng như đặt ưu tiên hàng đầu là đào tạo cán bộ quản lý chứ không phải đào tạo chuyên gia:

Nhóm ngành theo Đề án 47 Nhóm ngành theo Đề án 393 Nhóm ngành được cơ cấu lại

Tùy theo nhu cầu đào tạo của thành phố, hàng năm UBND thành phố sẽ thông báo danh mục ngành đào tạo và chỉ tiêu đào tạo cho từng ngành học cụ thể;

1. Y tế
2. Giáo dục
3. Du lịch
4. Quản lý đô thị
5. Kiến trục
6. Giao thông công chính
7. Công nghệ thông tin
8. Quản lý dự án
9. Thị trường tài chính
10. Công nghệ sinh học
11. Luật
12. Hành chính
13. Kinh tế đối ngoại 1. Nhóm ngành Quản lý đô thị: Quản lý đô thị và công trình, Quy hoạch đô thị, Quản lý dự án, Quản lý bất động sản, Giao thông công chính, Tài nguyên môi trường, Cấp thoát và xử lý nước, Nghiên cứu phát triển (gồm phát triển các chương trình, dự án chống nghèo đói, lao động, việc làm, di cư, khai thác tài nguyên).

2. Nhóm ngành Quản lý hành chính nhà nước: Hành chính công, Chính sách công, Quản lý nguồn nhân lực, Quản lý giáo dục, Quản lý y tế, Quản lý văn hóa, Quản lý khoa học & công nghệ, Quản lý du lịch, Quản lý dự án.

3. Nhóm ngành Khoa học công nghệ: Công nghệ sinh học, Công nghệ thông tin, Kỹ thuật - công nghệ, các chuyên khoa của ngành Y.

4.Nhóm ngành Kinh tế: Quản lý thị trường tài chính - chứng khoán, Quản lý kinh tế - kinh tế phát triển, Thương mại quốc tế, Kế toán - kiểm toán, Ngân hàng.

5. Nhóm ngành Luật: Sở hữu trí tuệ, hành chính, thương mại, dân sự, quốc tế



Thứ năm, về xét chọn đối tượng nhận học bổng:
- Tập trung vào đối tượng là học sinh, sinh viên có triển vọng và cán bộ, công chức có năng lực hiện đang làm việc tại các sở ban ngành, quận huyện trên địa bàn thành phố.
- Hạn chế tuyển ứng viên công tác từ các cơ quan trực thuộc trung ương (như Đại học Đà Nẵng). Hạn chế việc xét chuyển thẳng đối tượng tham gia Đề án 47 sang Đề án 393 để tạo sự công bằng trong việc tham gia học bổng giữa cán bộ, công chức và đối tượng sinh viên (có thể thực hiện nếu gộp hai Đề án thành Học bổng Phát triển Thành phố như đề xuất ở trên, nhưng nên để các sinh viên học chương trình cử nhân, kỹ sư về thành phố công tác một thời gian rồi sẽ xem xét cử đi học tiếp. Ngoài ra, cần lưu ý thời gian cam kết để đảm bảo công bằng, ví dụ thời gian học càng dài thì thời gian cam kết càng dài).
- Có định hướng nhóm ngành mà thành phố đang thiếu cán bộ cử đi (luật, quản lý đô thị) đối với ứng viên là sinh viên được cử đi đào tạo theo chương trình cử nhân và kỹ sư để sau này các đối tượng trên về công tác tại thành phố trong một thời gian, thành phố sẽ xem xét bố trí cử đi học ở bậc cao hơn.

Thứ sáu, các chính sách liên quan đến tài chính gồm các nội dung sau:
- Đề nghị thành phố có chính sách hỗ trợ để giữ nguyên lương với người được cử đi đào tạo thay vì cắt giảm xuống còn 40% theo quy định hiện nay.
- Rà soát lại việc thanh quyết toán đối với người tham gia chương trình. Đặc biệt lưu ý, kiểm tra cụ thể chứng từ về học phí, học bổng của ứng viên tham gia chương trình từ đầu hoặc đã học xong nhưng vẫn xin tham gia vào các Đề án (việc này được thực hiện dễ dàng khi yêu cầu học viên cung cấp email của các khoa nơi học viên theo học để hỏi chi tiết). Vì trên thực tế, có thể xảy ra trường hợp thành phố hỗ trợ sinh viên theo thông báo ban đầu, sau đó nhà trường giảm học phí nhưng người đi học không báo cáo lại, hoặc có thể có trường hợp đã nhận học bổng của trường (hỗ trợ học phí hoặc toàn phần) song vẫn đề xuất xin tham gia chương trình và đề xuất thành phố hỗ trợ toàn phần.

Thứ bảy, về bố trí công tác: đối với trường hợp cán bộ đi học, đề nghị thực hiện nguyên tắc “nơi nào cử đi, nơi đó tiếp nhận”. Sau khi hoàn thành khóa học, cán bộ, công chức được bố trí trở về đơn vị cũ; sinh viên được bố trí về cơ quan, đơn vị có nhu cầu được xác định trước khi tuyển chọn đào tạo. Thực hiện đánh giá định kỳ sự phấn đấu và phát triển đồng thời thực hiện chế độ luân chuyển định kỳ các đối tượng trên.

4. Tài liệu tham khảo

1. Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng, Quyết định số 393/QĐ-TU ngày 22 tháng 3 năm 2006 ban hành đề án “Đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ của thành phố Đà Nẵng tại các cơ sở nước ngoài” trong thời gian từ 2006 đến 2012.
2. UBND thành phố Đà Nẵng, Quyết định số 56/2006/QĐ-UBND ngày 02 tháng 6 năm 2006 của UBND thành phố Đà Nẵng Quy định về chế độ, chính sách và công tác quản lý đối với người được cử đi đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ ở nước ngoài giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010
3. UBND thành phố Đà Nẵng, Quyết định số 46/2008/QĐ-UBND ngày 23 tháng 10 năm 2008 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về chế độ, chính sách và công tác quản lý đối với người được cử đi đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ ở nước ngoài giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010 ban hành kèm theo Quyết định số 56/2006/QĐ-UBND của UBND thành phố Đà Nẵng.
4. UBND thành phố Đà Nẵng, Quyết định số 47/2008/QĐ-UBND ngày 14/11/2008 về việc phê duyệt Đề án hỗ trợ đào tạo bậc đại học tại các cơ sở giáo dục trong nước và ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước dành cho học sinh các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
5. Ban Chỉ đạo Đề án 393, dự thảo (lần 2) Báo cáo tình hình triển khai thực hiện đề án 393 năm 2008.
6. Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng, Báo cáo về việc triển khai Dự án hỗ trợ đào tạo bậc đại học tại các cơ sở giáo dục trong nước và ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước dành cho học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Reply With Quote
Gửi Đề tài mới Hồi đáp


Số người đang xem đề tài này: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Các thành viên đã xem đề tài này: 26
anhpd, bacnh, bientaptin, chivv, dungnp, giaontn, hoaihd, khapd, khoapm, kienlt, namnh, nghiattt, nguyentc, phuchtd, sonpv, tampv, tamtt, thachtn, thoptq, thuvtv, thuynpn, trangnttclc, tuandd, tunglt, tuyetntn, vinhtnn
Công cụ Đề tài

Quyền hạn của bạn
Bạn không được quyền gửi đề tài mới
Bạn không được quyền gửi trả lời
Bạn không được quyền gửi file đính kèm
Bạn không được quyền chỉnh sửa bài viết của bạn

vB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is Off
Chuyển đến Chuyên mục


Múi giờ hệ thống GMT +7. Bây giờ là 03:40 AM.

Bản quyền của Câu lạc bộ Cán bộ trẻ thành phố Đà Nẵng
Giấy phép số:
277/GP-BC do Cục Báo Chí, Bộ Văn hóa - Thông tin cấp ngày 28/6/2007
Văn phòng:
44 Bạch Đằng, Quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng, Việt Nam
Điện thoại: 84.511.840469
E-mail: canbotre@danang.gov.vn; Website: canbotre.danang.vn
Powered by vBulletin®
Version 3.6.5 Copyright ©2000 - 2007, Jelsoft Enterprises Ltd.